Chè Thái Nguyên, chè tân cương ngon nhất ở Hà Nội

 

Chè Thái Nguyên

Trà Thái Nguyên – thức uống giúp giảm cân và răng chắc khoẻ

Chè Thái Nguyên – thức uống giúp giảm cân và răng chắc khoẻ

Chỉ cần uống 3 tách trà mỗi ngày có thể giúp bạn đánh bại một số bệnh ung thưchè thái nguyên chống sâu răng và giảm cân một cách khá hiệu quả.

Sau nghi nghiên cứu nhiều tài liệu nghiên cứu về trà, tiến sỹ Carrie Ruxton – một nhà dinh dưỡng học nổi tiếng người Anh – đã đưa ra một số nhận định của riêng mình.

“Trà có tác dụng rất tốt cho răng,” bà cho biết “Các hợp chất giúp tạo nên màu sắc của trà hay còn gọi là favonoid có tác dụng kháng sinh rất mạnh.”

“Trà có hiệu quả rõ rệt nhất khi bạn uống từ 3 đến 4 tách mỗi ngày, đặc biệt là sau các bữa ăn hay ngay sau khi bạn ăn một loại đồ ngọt nào đó”. Trà có tác dụng kể cả khi bạn pha trà với một số nguyên liệu khác như đường chẳng hạn, tiến sỹ Ruxton cho hay. Có nhiều nghiên cứu về tác dụng chống ung thư của trà xanh nhưng hoàn chỉnh và có nhiều bằng chứng rõ ràng nhất phải kể đến khả năng chống ung thư đường răng miệng của trà. Ngoài ra, trà còn có khả năng cân bằng vi khuẩn đường ruột và chống lại việc nhiễm trùng dẫn đến ung thư ruột kết và viêm loét dạ dày.

Caffeine trong trà thái nguyên còn có khả năng thúc đẩy quá trình đốt chất béo lên đến 10%.

Tiến sỹ Ruxton cho biết:”Flavonoid [có trong trà] thúc đẩy quá trình đốt cháy chất béo và làm chậm sự hấp thu chất béo trong ruột”.

“Lượng caffeine vừa phải có trong trà giúp duy trì tốc độ trao đổi chất ở mức độ bình thường trong quá trình giảm cân.”

Chế độ ăn uống nhiều chất béo và ít chất xơ gây ra việc mất cân bằng vi khuẩn đường ruột. Một trong những cách để tránh việc này là sử dụng các thực phẩm có chứa các loại men vi sinh, tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra khả năng tương tự của của một loại thức uống phổ biến đó là trà.

Bài viết này của Tiến sỹ Carrie Ruxton được đăng trên – British Nutrition Foundation’s Nutrition Bulletin – tuần san của tổ chức về dinh dưỡng và sức khoẻ lớn nhất tại Anh.

Chè Thái Nguyên ở xứ sở hạt dẻ

Những ngày cuối thu, chúng tôi có dịp lên Cao Bằng công tác. Sáng sớm ở miền biên viễn này khí hậu lạnh hơn vùng xuôi, sương mù giăng kín trời.

Cô nhân viên khách sạn bưng ra mấy tách trà nóng và một đĩa hạt dẻ còn bốc hơi sau khi thấy chúng tôi đã dùng xong bữa điểm tâm. Vừa đưa tách trà lên miệng, tôi nhận thấy một mùi vị thơm mát và rất đỗi quen thuộc thoảng nhẹ qua sống mũi tạo cảm giác thật dễ chịu. Nhấp một ngụm, thấy có vị chát ngọt, nơi đầu lưỡi. Tôi bảo với anh em trong đoàn, đích thực đây là trà Thái quê mình. Điều đáng nói là khi uống trà Thái và nhâm nhi cùng với hạt dẻ Trung Khánh thì thấy thật tuyệt vời. Thế là ngay sau buổi sáng hôm đó, chúng tôi quyết định đi tìm hiểu thị trường chè Thái Nguyên và nhu cầu ẩm trà của người dân nơi mảnh đất xa xôi này.

Điều đầu tiên mà chúng tôi biết được chính là chè Thái Nguyên đang chiếm tới trên 80% thị trường trà Cao Bằng. Gần như người dân, các cơ quan Nhà nước đều uống và tiếp khách bằng trà Thái Nguyên. Tại sao lại có điều đó? Phải chăng người Cao Bằng không trồng chè và các loại chè ở nơi khác không thâm nhập vào được mảnh đất này? Quả là phải tìm hiểu cặn kẽ mới thấy được nhiều điều thú vị. Trong 6 tỉnh vùng Việt Bắc (Cao – Bắc – Lạng, Thái – Tuyên - Hà), gần như tỉnh nào cũng trồng chè và có sản phẩm từ chè, riêng tỉnh Cao Bằng, cơ bản người dân không trồng chè, chỉ có một phần của huyện Nguyên Bình là trồng chè và có sản phẩm trà. Theo người dân địa phương thì trà Nguyên Bình khá ngon, được xem là đặc sản, nhưng vì diện tích không nhiều, nên giá thành cao và không đủ cung cấp cho thị trường. Bởi vậy, gần như người Cao Bằng không mấy khi được uống trà Nguyên Bình. Chúng tôi hỏi chuyện những người kinh doanh chè lâu năm ở T.P Cao Bằng thì được biết, do điều kiện thổ nhưỡng không phù hợp nên sau nhiều lần trồng thử,người dân ở 12 huyện, thành khác trong tỉnh đều từ bỏ ý định làm chè.

Bà Sầm Thị Bẻn, phường Tân Giang, người đã có trên 20 năm kinh doanh chè Thái Nguyên ở T.P Cao Bằng cho biết: Sở dĩ người Cao Bằng chủ yếu chọn chè Thái Nguyên là bởi sản phẩm này có vị ngon đặc biệt, dễ uống, giá cả lại phù hợp. Hơn nữa, sản phẩm chè Thái có nhiều loại, từ thường thường bậc trung đến loại hảo hạng, mẫu mã đẹp, an toàn, có thể dùng uống trong gia đình và làm quà biếu rất thuận tiện. Người dân đã quen dùng chè Thái từ mấy chục năm nay nên thành thói quen, không muốn thay đổi. Thành ra các sản phẩm chè khác không mấy khi có người dùng. Còn chị Đào Thị Thuận, chuyên kinh doanh hàng khô và các sản phẩm trà trong chợ Xanh - chợ trung tâm của T.P Cao Bằng, tâm sự: Chúng tôi đã nhiều lần nhập các sản phẩm chè khác về bán nhưng rất ít người hỏi mua. Họ đến quầy chỉ tìm mua chè Thái hoặc một số loại thảo dược uống thay trà như: Giảo cổ lam, cây lá đắng, Diệp hạ châu…

Tuy thời gian khảo sát thực tế không nhiều, song cũng đủ để chúng tôi khẳng định, sản phẩm chè Thái Nguyên đang chiếm ưu thế rõ rệt trên thị trường nông sản Cao Bằng. Tại Siêu thị Cao Bằng, số 005, Hoàng Như, phường Hợp Giang, T.P Cao Bằng, chúng tôi thấy bày bán khá nhiều sản phẩm chè Thái Nguyên. Chủ yếu là chè xanh đóng gói ép chân không với các mẫu mã, kiểu dáng khá bắt mắt. Từ trà đặc sản của vùng chè Tân Cương, Trại Cài, La Bằng đến các vùng chè Phúc Tân, Minh Hợp đều được trưng bày, thu hút người mua. Chúng tôi thấy nhãn mác ghi tên một số cơ sở sản xuất chè có uy tín ở các vùng chè Thái Nguyên như: Cơ sở sản xuất trà xanh Trường Sơn, thị trấn Bắc Sơn (Phổ Yên); HTX chè an toàn Nguyên Việt, Trại Cài, xã Minh Lập (Đồng Hỷ); trà Hồng Thái, xã Tân Cương (T.P Thái Nguyên); HTX chè La Bằng, xã La Bằng (Đại Từ)…

Trong các chợ lớn, nhỏ của Cao Bằng, khu vực bán trà Thái Nguyên bao giờ cũng được bố trí ở những địa điểm dễ nhìn, sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp và nhiều khi không cần biển hiệu cũng thu hút được người mua hàng. Ví như chợ Xanh Cao Bằng, các quầy bán chè Thái được quy hoạch thành khu vực riêng, nên người mua chè rất dễ tìm và có điều kiện chọn lựa các sản phẩm mình thích. Chị Hoàng Thị Mai, còn được gọi là Mai chè cho hay: Mỗi ngày, trung bình có từ 5-10 khách đến mua trà Thái Nguyên, số lượng từ 2 đến 3kg/ngày. Một số cửa hàng có khách quen hoặc các cơ quan, đơn vị đặt mua thì số lượng khá lớn có ngày lên tới vài chục kilogam.

Điều đặc biệt ở Cao Bằng là chè Thái Nguyên được bày bán rộng rãi ở cả ngoài hành lang, vỉa hè giống như bất cứ một mặt hàng nông sản, thực phẩm ăn sẵn nào. Thường ở những vị trí này, chè Thái bán theo kg, khách muốn mua bao nhiêu dù nửa lạng hay cả chục cân đều có thể được đáp ứng. Người mua trà đến đây được mời uống thử trước khi quyết định mua loại trà nào phù hợp. Bà Nguyễn Thanh Huyền có người nhà làm chè ở xã Tân Cương (T.P Thái Nguyên) nói: Mỗi tháng, tôi đều về tận vùng chè đặc sản của Thái Nguyên để lấy trà lên bán. Vì thế có nhiều khách quen đặt hàng. Có lúc, khách đặt vài tạ về uống và phân phát cho người nhà, nhất là vào dịp Tết Nguyên đán.

 


Mùa này, ở Cao Bằng có ba mặt hàng đặc sản được du khách và người tiêu dùng quan tâm tìm mua là bánh khảo, hạt dẻ và chè Thái Nguyên. Hạt dẻ thì đến mùa mới có, còn chè Thái cũng giống như bánh khảo được bày bán quanh năm. Và tuy là đặc sản, nhưng chè Thái lại luôn gần gũi, chiếm được cảm tình, sự yêu mến, tin dùng của đông đảo người thưởng trà trên mảnh đất Cao Bằng giàu truyền thống cách mạng.

danh trà Thái Nguyên

Tân Cương - Một xã nằm ở vùng trung du bán sơn địa của vùng Việt Bắc thuộc thành phố Thái Nguyên. Qua nhiều thế hệ, cái nghèo, cái đói, cái khổ, cùng nỗi cực nhọc vất vả của thế hệ cha ông… đã thôi thúc mọi người dân nơi đây vượt lên để làm nên một Tân Cương hôm nay.

Đồi chè thái nguyên

Trên bản đồ của thành phố Thái Nguyên, xã Tân Cương nằm ở phía Tây cách trung tâm hơn 10km. Tân Cương gắn với hai địa hình tiêu biểu và quen thuộc với bao người ấy là núi Guộc và sông Công, sông Công là một nhánh chính của sông Cầu. Đây vốn là một con sông nhỏ, hiền hòa, chảy giữa lòng Tân Cương đem đến cho Tân Cương một cấu trúc hài hòa của nền sản xuất nông nghiệp và không gian huyền thoại về mối tình nàng Công, chàng Cốc dường như cũng đem đến cho các nương chè một không khí cổ tích thấm đẫm tình đời.

Vì sao chè Tân Cương lại cho một chất lượng tuyệt hảo như vậy? hương vị trà Tân Cương - chè thái nguyên dường như luôn tách ra đứng ở một vị trí riêng biệt. Các nhà khoa học chuyên ngành đã dành nhiều tâm huyết, thời gian và trí tuệ đi tìm câu trả lời trước một hiện tượng không đơn giản này. Những công trình nghiên cứu của khoa học hiện đại đã cơ bản thống nhất là chính yếu tố thổ nhưỡng và khí hậu có tính đặc thù đã làm nên giá trị phẩm chất của trà Tân Cương. Tuy nhiên đó mới chỉ là những yếu tố cần nhưng chưa đủ. Một trong những yếu tố quyết định để cho Tân Cương trở thành danh trà chính là nhờ bàn tay lao động tài hoa của người Tân Cương.

Cho đến thời điểm này, người dân Tân Cương làm nông nghiệp đang tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng dần diện tích trồng chè. Do vậy từ năm 2005 đến năm 2010, diện tích trồng chè tăng từ 400ha lên 450ha. Sản lượng búp khô đạt trên 1.100 tấn/năm. Giá trị thu nhập từ cây chè đạt 120 triệu đồng/ha/năm, có nhiều hộ thu nhập từ 350 đến 400 triệu đồng/ha/năm.Thu nhập bình quân đầu người đạt 15,2 triệu đồng/năm. Từ cây chè, người dân đang từng bước xây dựng xã Tân Cương to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Đường giao thông đã được bê tông hóa đến tận các xóm ngõ, những ngôi nhà khang trang mọc lên khắp nơi.

Có thể nói những gì mà Tân Cương có được hôm nay là phần nhiều là nhờ được hưởng lộc của thế hệ ông bà mình. Dân Tân Cương đời trước truyền cho đời sau lòng biết ơn người đã khai sinh ra xã mình. Đó là Ông Nghè Sổ. Ông Nghè Sổ tên thật là Nguyễn Đình Tuân, quê làng Trâu Lỗ nay thuộc xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Ông sinh năm Đinh Mão (1867), đỗ đầu tiến sĩ khoa Tân Sửu (1901) đời vua Thành Thái. Sau đó được bổ nhiệm làm tuần phủ kiêm án sát của xứ Thái Nguyên lúc bấy giờ. Bởi Ông Nghè Sổ từng gợi ý và tạo điều kiện cho xã Tân Cương một hướng làm ăn mới bằng cách đưa cây chè về trồng. Người thực thi ý tuởng này là ông Vũ Văn Hiệt, tên thường gọi là ông Đội Năm. Ông sinh năm 1883, quê xã Bạch Xam huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên. Khai khẩn đất hoang, gây dựng cây chè trên vùng đất mới ông Đội Năm được người dân coi là ông tổ của nghề chè nơi đây.

Đối với cây chè thủa mới khai sơn mở đất ấy phải mất chừng 4-5 năm người trồng chè mới được thu hoạch. Điều suy nghĩ mang tính thời sự cho đến ngày nay là vì sao, người dân Tân Cương lại hăm hở bắt tay vào xây dựng một vùng chuyên canh cây công nghiệp hoàn toàn xa lạ với truyền thống canh tác của người nông dân? Câu trả lời chính là đằng sau tất cả những gian khổ, thách thức của thủa đầu tiên đi mở đất ấy là một cuộc bứt phá rất can trường của những người nông dân nơi đây. Đó là tuy họ vẫn ở trong thửa ruộng mà đã bắt đầu có tầm nhìn vượt thời gian khi đưa cây trà thái nguyên trở thành một thức uống đặc sản của người Việt.

Giống chè được trồng ở Tân Cương, theo tư liệu của Trại chè Phú Hộ thuộc tỉnh Phú Thọ là thuộc giống chè lá to và xanh được lấy từ huyện Thanh Ba. Đây là giống chè bản địa được chọn lọc và xác định là rất phù hợp với vùng trung du Bắc Bộ. Chè được trồng bằng hạt, thường trồng vào vụ Đông Xuân hàng năm. Mặc dầu ít học nhưng lớp cư dân tiền bối đó tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật canh tác thời bấy giờ. Chè được trồng theo khóm, mỗi khóm 4 cây xếp theo hình vuông, mỗi cạnh 20cm, hàng cách hàng cũng như khóm cách khóm từ 1,5 đến 2m tùy theo độ dốc. Kích thước trên được áp dụng cho tất cả mọi địa hình. Đồi chè ngày đó vuông vức, thẳng tắp như điểm binh. Do đất đai ngày đó rất màu mỡ, độ phì rất cao nên cây chè phát triển nhanh, chỉ 3, 4 năm khóm chè đã xòe tán rộng tới cả mét. Giữa các luống chè được trồng xen canh khoai, sắn, đậu, lạc... Cũng là một phương thức lấy ngắn nuôi dài.

Thời xưa công việc hái chè là do phụ nữ làm còn sao chè là phần việc của đàn ông. Chè hái về phải được để hong trong nhà, không được ủ đống. Chè phải được sao trong ngày mới không bị nồng. Nếu hái vào lúc trời mưa cũng làm cho chè giảm chất lượng. Đến công đoạn vò chè lại được giao cho phụ nữ. Lúc bấy giờ người ta chủ yếu vò chè bằng chân trên nong sau khi sao héo lần một. Sau khi chè đã xoăn dần mới chuyển sang vò bằng tay. Đến khi xao khô lại chuyển cho đàn ông sao trên chảo. Đây là giai đoạn quyết định chè có ngon và cánh có đẹp hay không. Chè có thơm ngon, vị đượm hay không ở giai đoạn này phụ thuộc vào việc cảm nhận nhiệt của người xao chè. Giai đoạn đánh mốc lấy hương cũng thuộc về tay nghề, tài nghệ của mỗi người. Chảo lấy hương thường là chảo cỡ nhỏ, sao trên than củi đang nguội dần. Thường sau khi sao khô phải để chè nguội rồi mới đánh mốc, lấy hương thì chè mới không bị nổ hoa sói hoặc có mùi oi khói. Bàn tay lấy hương trà được ví như chiếc hàn thử biểu, cần có sự điều chỉnh độ nóng của lửa để cho một nhiệt độ phù hợp trong lòng chảo.

Thật lạ,vài ba thập niên đầu tiên trên vùng chè, người Tân Cương thời đó hầu như không uống trà mặc dầu bàn tay họ làm ra trà. Có nhiều cách lý giải hiện tượng xã hội này. Có người cho rằng do hoàn cảnh khó khăn cần chắt chiu sản phẩm, có người cho đó là bản chất tằn tiện của nông dân. Hiện tượng trên bắt đầu thay đổi khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Lớp người từ các đô thị tản cư đổ về Tân Cương.

Đến thập kỷ 70 – 80 của thế kỷ 20, người trồng chè Tân Cương đã nhận thấy muốn nâng cao năng suất và phẩm chất chè phải tăng mật độ chè, chống xói mòn va øchuyển sang phương thức thâm canh. Quá trình lao động là một quá trình cải tiến không ngừng công cụ sản xuất. Tuy nhiên riêng việc thu hái chè vẫn phải hái thủ công. Từ lâu, công đoạn hái chè hầu hết đều dành cho phụ nữ. Tuy không nặng nhọc nhưng việc hái chè lại đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ. Thông thường đối với chế biến chè xanh, kỹ thuật hái búp chè là “một tôm hai lá, một cá hai chừa” để cây chè vẫn đảm bảo tái sinh và phẩm cấp đạt yêu cầu chế biến. Nhưng do yêu cầu của kinh tế hàng hóa và nhu cầu của khách hàng, người sản xuất chỉ hái “một tôm” để làm ra loại chè đặc sản có giá cao gấp nhiều lần trà thông thường. Loại chè ấy có cái tên khá ngộ nghĩnh là chè đinh.

Gần một thế kỷ trước khi đưa giống chè Phú Thọ vào canh tác trên đất Tân Cương, có lẽ ông Đội Năm đã tiên đoán loại chè này rất trường thọ. Ngày nay người người, nhà nhà ở đất Tân Cương đã và đang nối nghiệp chè luôn ghi ơn các bậc trưởng bối. Người đã chọn đất, đất đã ưa thì cây cứ hồn nhiên sinh tồn và phát triển, dù trang sử thời cuộc hay thân phận của mỗi con người có lúc thịnh, lúc suy. Với những gì quý báu đang được kế thừa chắc chắn nghiệp chè vẫn cứ phát triển và trường tồn mãi mãi, để nơi đây xứng danh là “ Đệ nhất danh trà của Thái Nguyên”.

Thái Nguyên: Những vùng chè đặc sản

Thái Nguyên là vùng chè trọng điểm của cả nước, với diện tích chè hơn 18.500ha, trong đó có gần 17.000ha chè kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha, sản lượng đạt gần 185 nghìn tấn. Xác định chè là cây trồng mũi nhọn, những năm qua, tỉnh Thái Nguyên đã triển khai nhiều biện pháp để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè, trong đó có việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP). Hiện nay, toàn tỉnh có 15 mô hình chè theo tiêu chuẩn VietGAP ở các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Định Hóa, Võ Nhai, Phổ Yên, Phú Lương.


1. VÙNG CHÈ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Trà Tân Cương có vị thơm tự nhiên của hương cốm, đậm đà bởi vị ngọt chát thanh tao mà chỉ có đất trời Tân Cương mới tạo nên được. Vùng chè Thái Nguyên đặc sản Tân Cương gồm các xã Phúc Trìu, Phúc Xuân, Tân Cương thành phố Thái Nguyên. Tính đến thời điểm hiện tại trên địa bàn thành phố diện tích cây chè hiện có gần 1.300 ha, trong đó có hơn 1.100 ha cho thu hoạch, năng suất bình quân ước đạt 150 tạ/ha. Tại đây, các mô hình Hợp tác xã chè hoạt động có hiệu quả, đặc biệt, Hợp tác xã chè Tân Hương ở xã Phúc Xuân đã đạt được tiêu chuẩn Quốc tế UTZ Certified (tiêu chuẩn về sản xuất các sản phẩm nông sản tốt trên quy mô toàn cầu). Nhiều loại chè chất lượng cao được bán ra thị trường như: Chè búp đặc biệt, chè tôm nõn, chè đinh…Sản phẩm Trà Tân Cương đã được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới và được nhiều người ưa chuộng.

2. VÙNG CHÈ ĐẠI TỪ

Đại Từ nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, là vùng đất mưa thuận, gió hòa, đất đai màu mỡ, phù hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây chè. Toàn huyện có 30/31 xã, thị trấn trồng chè, trong đó có 19 xã nằm ven chân núi Tam Đảo, Núi Hồng và Núi Chúa có điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, nguồn nước tưới và khí hậu thuận lợi cho cây chè phát triển, tạo ra được vùng sản phẩm chè ngon, chè đặc sản như: La Bằng, Khuôn Gà (Hùng Sơn), Hoàng Nông, Quân Chu. Đây cũng là huyện có diện tích chè lớn nhất của tỉnh Thái Nguyên và đứng thứ 2 so với các huyện trên cả nước, với diện tích 5.380 ha, chiếm khoảng 30% tổng diện tích chè của toàn tỉnh, sản lượng chè búp tươi năm 2012 đạt 52.919 tấn. Không chỉ có diện tích chè lớn, chè Đại Từ còn có hương thơm và vị đượm đặc trưng. Hiện nay, toàn huyện có 52,73 ha chè đã được cấp giấy chứng nhận sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. Ngoài giống chè trung du, trong những năm gần đây bà con trong huyện đã thay thế bằng những giống chè mới có năng suất, chất lượng cao hơn, như giống chè LDP1, LDP2, Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tuyên, Keo Am Tích, TRI777. Trong thời gian tới, huyện sẽ hỗ trợ triển khai xây dựng các vườn cây đầu dòng giống chè mới và các vườn ươm giống; tăng cường kiểm tra chất lượng giống chè đưa vào sản xuất, từng bước thay thế các thiết bị chế biến mới; khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến quy mô nhỏ và nhỏ với thiết bị đồng bộ, hiện đại, chế biến theo công nghệ chè xanh; tập trung xây dựng, quảng bá thương hiệu, nhất là triển khai đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa chè Đại Từ…

3. VÙNG CHÈ ĐỒNG HỶ

Đứng thứ 3 trong toàn tỉnh về diện tích trồng chè, huyện Đồng Hỷ từ lâu đã được biết đến là huyện có vùng chè nổi tiếng Trại Cài. Được thiên nhiên ưu ái, vùng chè nổi tiếng Trại Cài nằm bên bờ sông Cầu, được hưởng phù sa và dòng nước từ dòng sông Cầu thơ mộng, chè Trại Cài đã có tiếng là vùng chè đặc sản ngon nổi tiếng, được người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng. Năm 2012, diện tích chè toàn huyện đạt hơn 2.800 ha, trong đó chè kinh doanh đạt hơn 2.600 ha với năng suất ước đạt gần 119 tạ/ha/năm, sản lượng chè búp tươi đạt trên 31.000 tấn. Huyện Đồng Hỷ có 9 làng nghề chè, tập trung tại xã Minh Lập, Hòa Bình và thị trấn Sông Cầu và nhiều Hợp tác xã chuyên sản xuất và kinh doanh chè. Chè của huyện đã đạt được nhiều giải thưởng, Cúp vàng tại các hội thi trong và ngoài tỉnh. Được đánh giá là một trong những cây trồng chủ lực, năm vừa qua, huyện đã chú trọng đầu tư bằng các nguồn vốn khác nhau, hỗ trợ giống chè cho các hộ trồng chè tại các xã trong toàn huyện các giống chè trồng bằng cành chất lượng cao. Hiện nay, huyện Đồng Hỷ đang tiếp tục duy trì vùng sản xuất chè theo quy trình VietGAP tại các xã Hòa Bình, Minh Lập và thị trấn Sông Cầu với trên 30ha.

4. VÙNG CHÈ ĐỊNH HÓA

Định Hóa là một huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên. Từ nhiều năm nay, cây chè vẫn được huyện Định Hóa xác định là cây trồng chủ lực trong sản xuất nông nghiệp, vì đã góp phần giúp nhiều hộ dân thoát nghèo và có điều kiện vươn lên làm giàu. Toàn huyện hiện có 2.230ha chè, sản lượng chè búp tươi năm 2012 đạt 19.977 tấn. Các xã có diện tích chè lớn của huyện là: Bình Thành, Phú Đình, Sơn Phú, Điềm Mặc…trong đó chè Điềm Mặc là một vùng chè ngon, đặc sản của huyện. Từ năm 2011 đến nay, huyện Định Hóa đã triển khai được 7 mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP tại các xã: Trung Hội, Phú Đình, Sơn Phú, Thanh Định với tổng số trên 69ha. Trong những năm tới, huyện phấn đấu nâng tổng diện tích chè lên 3.000ha, trong đó chè cành chiếm trên 70% tổng diện tích; đồng thời tiến hành quy hoạch chi tiết vùng chè nguyên liệu của huyện, xây dựng các làng nghề chè, thành lập các tổ hợp tác và hợp tác xã chuyên sản xuất chè...

5. VÙNG CHÈ PHÚ LƯƠNG

Nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, huyện miền núi Phú Lương có 4.357ha chè, với năng suất 101 tạ/ha/năm, cho sản lượng 40.909 tấn/năm; trong đó có 2.500ha (57.4%) chè thâm canh giống mới, cho năng suất, chất lượng cao.

Các xã có diện tích chè lớn là: Tức Tranh (1033ha), Vô Tranh (603ha), Phú Đô (467ha).... Trong đó có thương hiệu chè Khe Cốc (xã Tức Tranh) là thương hiệu chè nổi tiếng ở Thái Nguyên và cả nước, Chè Khe Cốc từ lâu đã rất nổi tiếng bởi độ nồng, đượm được trồng sôi trên chất đất sạch kiềm và được chăm sóc bằng dòng nước trong mát từ các khe suối nguồn của con sông Cầu.

Trên địa bàn huyện có các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè như: Doanh nghiệp Thanh Thanh Trà xã Vô Tranh, doanh nghiệp Nguyệt Mạnh xã Tức Tranh, HTX sản xuất chè Quyết Thắng – Tức Tranh, HTX sản xuất dịch vụ chế biến chè – Vô Tranh.

6. VÙNG CHÈ VÕ NHAI

Huyện vùng cao Võ Nhai nằm ở phía Bắc thành phố Thái Nguyên, giáp với tỉnh Lạng Sơn. Võ Nhai có diện tích trồng chè vào khoảng 800 ha. Năm 2012, sản lượng chè búp tươi đạt hơn 4000 tấn với năng suất đạt trên 90 tấn. Những năm gần đây, huyện đã chú trọng thay đổi giống chè chất lượng cao thay cho giống chè trung du. Theo đánh giá, chất lượng chè Võ Nhai cũng không kém các vùng chè khác trong tỉnh. Song, do chưa có thị trường ổn định và thương hiệu nên sản phẩm chè của huyện chưa thực sự có tên tuổi trên thị trường. Chè được trồng nhiều tại các xã Liên Minh, Bình Long, Lâu Thượng, La Hiên, Dân Tiến, Tràng Xá... Hiện nay toàn huyện có 2 làng nghề chè và 1 Hợp tác xã chè.

7. VÙNG CHÈ PHỔ YÊN

Phổ Yên là huyện trung du, nằm ở vị trí cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích chè toàn huyện là 1462ha, sản lượng 14.034 tấn/năm, đạt năng suất 96,2 tạ/ha/năm. Trong đó, chè tập trung phần lớn ở các xã: Thành Công, Phúc Thuận, Minh Đức, Phúc Tân và thị trấn Bắc Sơn.

Những năm gần đây, huyện Phổ Yên đã tích cực chuyển đổi và trồng mới được khoảng 700 ha chè có nă ng suấ t, chấ tlượng cao.

Việc tiêu thụ chè trên địa bàn đang hướng tới một số cơ sở chế biến chè như: Công ty chè Bắc Sơn; Công ty chè Vạn Tài; Công ty chế biến chè Việt Thái và cơ sở chế biến chè Hương Giang.

Với tiềm năng về diện tích hơn 1000 ha cho trồng mới và gần 1000 ha cần chuyển đổi bằng các giống chè mới; với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước, người trồng chè đã có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và hệ thống chế biến tiêu thụ đang từng bước được mở rộng; có thể thấy tiềm năng cho phát triển cây chè ở Phổ Yên đang rộng mở.

8. VÙNG CHÈ SÔNG CÔNG - chè thái nguyên

Thị xã Sông Công cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 20km về phía Nam, ở vị trí tiếp giáp giữa vùng núi phía Bắc và đồng bằng Bắc Bộ, có nhiều đường giao thông thuỷ, bộ dọc ngang, thị xã Sông Công trở thành nơi giao thương thuận lợi.

Điều kiện địa hình nhiều đồi núi, khí hậ u, thổ nhưỡng thích hợp, nguồn nước từ Hồ Núi Cốc qua dòng sông Công chảy qua trung tâm Thị xã là những điều kiện thuận lợi để Sông Công trồng và phát triển cây chè.

Hiện nay, toàn thị xã có 725ha diện tích đất trồng chè, sản lượng chè búp tươi đạt: 6400 tấn/năm, năng suất 94,6 tạ/ha/năm.

Chè được trồng chủ yếu ở các xã: Bình Sơn (293ha), Vinh Sơn (158ha), Bá Xuyên (151ha); hiện có một số doanh nghiệp chế biến chè trên địa bàn như: Doanh nghiệp trà Hạnh Nguyệt ở xã Vinh Sơn, Doanh nghiệp chè Thúy Vân ở phường Lương Châu.

9. VÙNG CHÈ PHÚ BÌNH

Phú Bình là một huyện trung du, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Thái Nguyên. Là một huyện có tỷ trọng nông nghiệp cao trong cơ cấu kinh tế, nhưng diện tích chè của toàn huyện không nhiều, chỉ có 154ha, sản lượng 917 tấn/năm, năng suất 60 tạ/ha/ năm, trong đó tập trung chủ yếu ở các xã: Bàn Đạt, Đồng Liên, Tân Khánh.

Những năm gần đây, huyện Phú Bình đã đưa khoảng 60ha chè giống mới có năng suất, chất lượng cao vào trồng mới và trồng chuyển đổi. Những năm tới đây huyện sẽ tiếp tục chuyển đổi và trồng chè giống mới có năng suất, chất lượng cao; nâng cao diện tích, sản lượng, năng suất chè của huyện./.

chè thái nguyên Xứng danh "đệ nhất danh trà"

ND - Thái Nguyên những ngày đầu tháng 11, tiết trời se lạnh, nhưng ở các vùng chè của tỉnh vẫn sôi động, ấm áp bởi không khí chuẩn bị cho Festival Trà Thái Nguyên - Việt Nam lần thứ hai, nhằm hướng tới việc quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư phát triển ngành chè Việt Nam nói chung và chè Thái Nguyên nói riêng.

Từ chè Tân Cương đến Festival Trà

Trước lễ hội trà, chúng tôi tìm về chân núi Guộc, nơi "phát tích" cây chè, để sau đó không lâu, cả một vùng đồi núi điệp trùng của Thái Nguyên được vinh danh "đệ nhất danh trà". Trước mắt chúng tôi, núi Guộc sừng sững, uy nghi như "tấm phên giậu" che chắn cho dải đất Tân Cương, thành phố Thái Nguyên. Theo các bậc cao niên thì ở vùng núi này cây chè đã mọc từ nhiều đời nay, nhưng đó là loại chè rừng, người dân địa phương vẫn đi hái về nấu nước uống. Còn như lời kể của ông Phạm Ngọc Việt, cư dân xóm Guộc: Vào những năm đầu thế kỷ 20, Ðội Năm (tức cụ Vũ Văn Hiệt), người xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào (Hưng Yên) đưa dân về chân núi Guộc khai phá đất đai, lập làng. Trong thời gian ở đây, cụ Hiệt đã sang Phú Thọ lấy hạt giống chè mang về trồng. Mỗi năm một ít, diện tích chè vì thế được mở mang ra khắp vùng đồi đất Tân Cương và các xã chung quanh. Ðến nay, theo Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Cuơng (TP Thái Nguyên) Lương Văn Hoà: Vùng chè Tân Cương có diện tích gần 5.000 ha, trải rộng trên đất của các xã  Phúc Xuân, Phúc Trìu và Tân Cương. Cây chè ở vùng đất này đã khẳng định thương hiệu trên thị trường của hơn 100 nước. Hơn thế, chè Tân Cương còn là một trong năm sản phẩm quốc gia được đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý trên toàn quốc.

Cách đây gần 10 năm (2004), người dân xóm Guộc đã mở Hội chè xuân. Ngày hội thu hút đông đảo nhân dân trong xóm tham gia, với các hoạt động sôi nổi chung quanh chủ đề về cây chè, như thi chất lượng chè ngon, thi sao chè bằng chảo gang, thi pha trà, thưởng trà. Ngoài ra còn có đấu võ, bình thơ... Có lẽ trên đất nước Việt Nam, xóm Guộc là nơi tổ chức Hội làng chè đầu tiên, để sau đó ngày hội làng chè được mở rộng đến cấp xã, cấp tỉnh, và từ năm 2011, trở thành Festival trà mang tầm quốc gia, được tổ chức hai năm một lần, với quy mô ngày càng lớn. Ngoài sự tham gia của đại diện các vùng chè trong cả nước, Festival còn thu hút người trồng chè ở các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Lào... tham gia. Festival có nhiều hoạt động phong phú như các hội thi: Búp chè vàng, bàn tay vàng, cây chè đẹp và người đẹp xứ trà...

Những vùng chè nổi tiếng của Thái Nguyên là Tân Cương (TP Thái Nguyên), Minh Lập (Ðồng Hỷ), La Bằng (Ðại Từ)... bây giờ đã trở thành điểm tham quan, du lịch hấp dẫn. Du khách trong nước, quốc tế đến đây luôn thán phục về cách làm chè truyền thống của người dân Thái Nguyên. Nhìn những phụ nữ vục đôi tay trần đảo chè đang sao trong chảo nóng, ông Lương Văn Minh, Chủ tịch Hội Nông dân xã La Bằng cho biết: La Bằng có hơn 300 ha chè, trong đó có hơn 200 ha chè kinh doanh, với năng suất đạt 93 tạ/ha, sản lượng hằng năm đạt gần 1.900 tấn búp tươi/năm, tương đương với gần 400 tấn sản phẩm chè khô. Mỗi năm cây chè mang lại cho gần 900 hộ nông dân trong xã số tiền hơn 55 tỷ đồng.

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Dương Ngọc Long cho chúng tôi biết: Thái Nguyên hiện là vùng trọng điểm chè của cả nước, đứng thứ hai sau tỉnh Lâm Ðồng. Nghề trồng và chế biến chè đã đem lại hiệu quả lớn về kinh tế - xã hội trên địa bàn của tỉnh. Chè được xem là cây xóa đói, giảm nghèo và làm giàu của nông dân. Toàn tỉnh có hơn 18.600 ha chè, trong đó có gần 17 nghìn ha chè kinh doanh, với năng suất ổn định 109 tạ/ha, sản lượng chè tươi hằng năm đạt gần 185 nghìn tấn/năm, tương đương 35 nghìn tấn chè búp khô... Theo đồng chí Chủ tịch tỉnh, với giá trung bình 150.000 đồng/kg, mỗi năm cây chè đem lại cho Thái Nguyên số tiền hơn 5.000 tỷ đồng.

Thái Nguyên - "đệ nhất danh trà"

Có thể nói từ sau năm 2010, Thái Nguyên đã có "cuộc cách mạng" về việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè, xây dựng thương hiệu và hệ thống quản lý chè từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Nhân dân các vùng chè trong tỉnh không còn chặt phá, hoặc bỏ rơi cây chè để lấy đất trồng cây ăn quả như trước đây. Thể hiện rõ nhất là từ năm 2006, phong trào cải tạo đồi chè trong nhân dân phát triển mạnh, trong đó phải kể đến sự vào cuộc của các cấp chính quyền từ tỉnh đến huyện và xã. Bằng chính sách hỗ trợ cho nông dân đầu tư thâm canh, từ năm 2006 đến hết năm 2012, trung bình mỗi năm nhân dân các vùng chè của tỉnh trồng mới, trồng lại 1.000 ha, chủ yếu là các giống chè Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Kim Tuyên, Thúy Ngọc...

Trong sản xuất, chế biến chè, người dân được cán bộ chức năng tập huấn, hướng dẫn áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn VietGAP. Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên: Từ năm 2009, mô hình đầu tiên sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP (chè siêu sạch) đã được triển khai ở xã Hoà Bình (Ðồng Hỷ), sau đó tiếp tục triển khai tại nhiều địa phương. Ðến nay toàn tỉnh có 15 mô hình chè VietGAP ở các huyện Ðại Từ, Ðồng Hỷ, Ðịnh Hóa, Võ Nhai, Phổ Yên, Phú Lương và TP Thái Nguyên, với tổng diện tích 200 ha chè VietGAP. Việc đưa khoa học - kỹ thuật vào thâm canh và chuyển đổi cơ cấu giống chè những năm qua đã làm tăng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích, thu nhập từ 46 triệu đồng/ha năm 2008, lên gần 70 triệu đồng/ha năm 2013.

Qua tìm hiểu, chúng tôi còn được biết: Trong chuỗi sản xuất chè bao gồm các khâu: trồng, chăm sóc, vận chuyển, chế biến, đóng gói, bảo quản, tiêu thụ đều có liên quan chặt chẽ về quy trình kỹ thuật và các biện pháp bảo đảm chất lượng chè. Trong xâu chuỗi này gồm các hộ nông dân trồng, chế biến chè có quy mô sản xuất trang trại hoặc nông hộ; những hộ nông trường viên và những công nhân nông trường đã nhận đất của nông trường khi nông trường chuyển đổi thành công ty. Ngoài ra còn có các hộ có khả năng ký hợp đồng sản xuất cho các công ty chè. Ðiển hình là các doanh nghiệp: Công ty Xuất nhập khẩu Thái Nguyên; Nhà máy chè xuất khẩu Tân Cương - Hoàng Bình; Công ty cổ phần Vạn Tài; Công ty TNHH một thành viên chè Sông Cầu; Doanh nghiệp tư nhân Trà Hạnh Nguyệt... đã mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ và liên kết chặt chẽ với người trồng chè, để từ đó làm ra sản phẩm chè cao cấp, chất lượng cao, bảo đảm an toàn và có giá trị phục vụ người tiêu dùng. Chè Thái Nguyên chủ yếu phục vụ người tiêu dùng trong nước, số lượng chè xuất khẩu sang các nước Trung Ðông, một số nước châu Á và Ðông Âu mới chiếm khoảng 30% tổng sản lượng chè trong năm của tỉnh, giá xuất khẩu từ 1.400 đến 1.500 USD/tấn.

Chè Thái Nguyên mang đậm đà hương vị của rừng núi, có vị chát của nắng, mưa, vị ngọt hậu của tình nghĩa con người, cho nên những ai sành ẩm thực đều cảm mến hương sắc chè Thái Nguyên. Với phần lớn người Việt Nam, thú uống trà ngấm vào máu thịt, cho nên dù ở chân trời, góc bể nào, hễ bạn bè gặp nhau là có ấm trà để khơi nguồn câu chuyện. Mà được thứ trà xanh Thái Nguyên mới coi là thượng hạng. Dù là chè ở vùng Minh Lập (Ðồng Hỷ), Phúc Thuận (Phổ Yên), La Bằng (Ðại Từ) hay chè được sao suốt từ các xã vùng chè Tân Cương, đều được gọi chung là "chè Thái Nguyên".

Cây chè Thái Nguyên và nét văn hóa lâu đời của người Việt

Từ bao đời nay, cây trà đã gắn bó với cuộc sống của người dân Việt. Có thể nói uống trà đã trở thành một nét văn hóa lâu đời của người Việt Nam.

Từ bao đời nay, cây trà đã gắn bó với cuộc sống của người dân Việt. Trà hiện diện trong mọi gia đình người Việt. Khách đến nhà người ta mời trà để mở đầu câu chuyện. Có thể nói uống trà đã trở thành một nét văn hóa lâu đời của người Việt Nam. Nhân dịp Festival Văn hóa Trà Thái Nguyên sắp được khai mạc vào ngày 09/11 tới đây, chúng ta hãy cùng nhìn lại nét văn hóa hấp dẫn này và tìm hiểu những di sản văn hóa trà hiện còn đang được lưu giữ tại mảnh đất Thái Nguyên hiện nay.

Ảnh minh họa

Chưa có ai xác định được thời gian chính xác từ bao giờ cây chè đã gắn bó với cuộc sống của người Việt. Chỉ biết rằng đã từ lâu lắm người ta đã quen với việc mời khách đến nhà một chén trà để thể hiện tấm lòng của gia chủ; chén trà sau bữa cơm tối cùng gia đình làm tăng thêm không khí gần gũi, đầm ấm. Và trà có mặt ở mọi sự kiện quan trọng từ ma chay, cưới xin, cho tới giỗ chạp. Mà trà ngon nhất thì chỉ có ở vùng Thái Nguyên. Các sử gia triều Nguyễn cách đây hơn 300 năm cũng đã khẳng định vùng đất Thái Nguyên không chỉ là vùng trồng chè lâu đời có sản lượng cao nhất cả nước mà vị trà cũng ngon nhất.

Ông Mông Nông Vũ, nhà nghiên cứu Chè Thái Nguyên cho biết: “Theo tôi, điều quan trọng nhất là người nông dân trồng chè phải hiểu được cây chè của mình. Từ đó, họ biết bón phân bao nhiêu thì trà sẽ ngon, thu hái lúc nào là thích hợp nhất chứ không phải muốn thu lúc nào cũng được”.

Đến với Thái Nguyên trong dịp Festival Trà Thái Nguyên Việt Nam lần thứ 2, khai mạc từ 9/11 tới đây, du khách sẽ không chỉ được tham quan những đồi chè bát ngát của vùng chè Tân Cương, chè thái nguyên nổi tiếng khắp trong và ngoài nước, thưởng thức hương vị những loại trà ngon nhất được sao tẩm bởi những nghệ nhân có kinh nghiệm lâu năm của Thái Nguyên, hay cùng khám phá những cách pha trà tinh tế, mà nếu muốn tìm hiểu về lịch sử cây chè ở vùng đất này, mọi người cũng có thể thỏa mãn bằng việc tìm tới với Bảo tàng Trà Thái Nguyên. Với hàng trăm hiện vật khác nhau, Bảo tàng là nơi gói ghém phần nào cái văn hóa trà đã được hình thành nhiều thế kỷ ở đây.

Ông Bùi Huy Toàn, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên nói: “Qua 2 năm hoạt động chúng tôi đã đón rất nhiều khách trong nước và quốc tế. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục sưu tầm và bổ sung tư liệu trưng bày của Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung”.

Ông Dương Ngọc Long, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên chia sẻ: “Những Festival trà được tổ chức thường niên sẽ là cơ hội rất tốt để tôn vinh những nghệ nhân, những người gắn bó lâu năm với cây chè. Hơn thế nữ đây cũng là dịp để Thái Nguyên giới thiệu những sản phẩm, những thương hiệu trà của địa phương đến với người dân cả nước cũng như nước ngoài”.

Với diện tích trồng chè chiếm gần 19.000 ha (đứng thứ hai trong cả nước), Thái Nguyên đang là tỉnh dẫn đầu về năng xuất, chất lượng chè, sản lượng đạt 85.000 tấn/năm, trong đó xuất khẩu 7.200 tấn/năm sang các nước như: Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Đài Loan, Sri Lanka, Nhật Bản, Pakistan … chiếm 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu chè cả nước. Hiện tỉnh đang tích cực thực hiện Đề án Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể của Trà Thái Nguyên đã được Chính phủ phê duyệt, gìn giữ thương hiệu "Đệ nhất danh trà" với du khách trong và ngoài nước. Với những người dân nơi đây, cây chè không chỉ là kế sinh nhai, mà còn là những giá trị văn hóa mà nhiều thế hệ ông cha để lại.

 

Giỏ hàng của bạn

 x 
Giỏ hàng trống

Hỗ trợ trực tuyến

Trang web hiện có:
1 khách & 0 thành viên trực tuyến

Bạn đã like chưa?

 

 HỆ THỐNG SHOWROOM

Showroom Tân Cương Xanh tại Hà Nội
  • Cửa Hàng 1  : 42 Tây Sơn - Đống Đa - Hà nội
  • Cửa Hàng 2  : Số 10 Ngõ 31/18 Trần Quốc Hoàn, Cầu Giấy
  • Cửa Hàng 3  : 62 Nguyễn Khuyến - Đống Đa - Hà Nội
  • Cửa Hàng 4  : 32A Tôn Đức Thắng - Đống Đa - Hn ( Ngã 3 Hàng Cháo - Đối Diện Văn Miếu Quốc Tử Giám )
  • Cửa Hàng 5  : 52 Nguyễn Văn Huyên - Cầu Giấy - Hà Nội ( Ngã 3 Cầu Giấy - Nguyễn Văn Huyên )
  • Cửa Hàng 6  : 27 Nguyễn Ngọc Nại - Thanh Xuân - Hà Nội
  • Cửa Hàng 7  : 74 Chiến Thắng, Hà Đông , Hà Nội
  • Cửa Hàng 8  : 125 Thụy Khuê , Tây Hồ ,Hà Nội
  • Cửa Hàng 9 : 203 Hàng Bông, Hoàn Kiếm, Hà Nội 
  • Cửa Hàng 10 : 20 Hàng Đường, Hoàn Kiếm, Hà Nội
    Hotline Tân Cương Xanh : 0983 412 602 - 0912 74 1357
Showroom Tân Cương Xanh tại Đà Nẵng
  • Cửa Hàng 11  : 262 Trưng Nữ Vương, Hải Châu, Đà Nẵng
    Hotline: 02363 863 866 - 0836 968 368
Showroom Tân Cương Xanh tại Hồ Chí Minh
  • Cửa Hàng 12  : A75/6D/6 Đường Bạch Đằng , Phường 2 , Quận Tân Bình,TP Hồ Chí Minh
  • Cửa Hàng 13  : 288A3 Nam Kỳ Khởi Nghĩa,Phường 8 , Quận 3, TP. Hồ Chí Minh
  • Cửa Hàng 14  : 575 Hoàng Văn Thụ,P4,Quận Tân Bình,TPHCM ( Đối Diện Triển Lãm Tân Bình )
    Hotline TPHCM : 02838 111 866 - 0911 620 868
Showroom Tân Cương Xanh tại Thái Nguyên
  • Cửa Hàng 15  : 1224 Trần Hưng Đạo ,TP Sông Công,TN
  • Cửa Hàng 16 : 805 Trần Hưng Đạo ,TP Sông Công,TN
  • Nhà Máy 1.2Ha : Hồng Thái 2, Xã Tân Cương, TP Thái Nguyên ( Đối Diện Không Gian Văn Hóa Chè Tân Cương )
    Hotline Tân Cương Xanh - Thái Nguyên : 0208 370 8998

 

Top of Page